Các bài viết gồm: Bài viết Vietnam’s Application and Practice of the International Support in the National Liberation Movement (Sự vận dụng và thực tiễn của Việt Nam đối với sự ủng hộ quốc tế trong Phong trào Giải phóng Dân tộc) của PGS. Zhong Ke. Nghiên cứu chỉ ra trong những năm 1940, một làn sóng mạnh mẽ của các phong trào giải phóng dân tộc đã lan rộng khắp Đông Nam Á khi các đế quốc thực dân suy yếu trong và sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Tại Việt Nam, những người cách mạng dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nắm bắt cơ hội lịch sử này để phát động các cuộc đấu tranh kiên cường chống lại sự thống trị của thực dân nhằm hướng tới độc lập dân tộc và quyền tự quyết. Tuy nhiên, chính quyền cách mạng mới thành lập còn non trẻ, thiếu hụt nguồn lực, đồng thời phải đương đầu thù trong giặc ngoài do các thế lực thực dân muốn khôi phục ảnh hưởng của chúng. Trong bối cảnh đầy thách thức đó, các nhà cách mạng Việt Nam đã vận dụng sự ủng hộ của phong trào cách mạng quốc tế, nhấn mạnh sự hợp tác giữa các lực lượng cách mạng trong nước và các nhân tố quốc tế ủng hộ phong trào. Bằng cách tăng cường tinh thần đoàn kết giữa công nhân, nông dân, trí thức và các lực lượng yêu nước ở trong nước, đồng thời tìm kiếm sự ủng hộ về ngoại giao, chính trị... ở nước ngoài, Việt Nam đã xây dựng được một mạng lưới kháng chiến rộng khắp. Sự kết hợp giữa huy động sức mạnh nội lực và đoàn kết quốc tế này đã đóng một vai trò quan trọng vào thắng lợi cuối cùng của Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Bài viết thứ hai: Laos’ Policies and Actual Implementation of Facilitating Working Forces: A Case Study (Chính sách và thực tế triển khai tạo điều kiện cho lực lượng lao động của Lào: Một nghiên cứu trường hợp) của tác giả TS. Phạm Thị Mùi. Bài viết nghiên cứu về sự phát triển của các dự án và hoạt động thương mại xuyên biên giới đã làm gia tăng dòng dịch chuyển lao động từ một số quốc gia, trong đó có Việt Nam, sang Lào thông qua cả con đường chính thức và phi chính thức. Lao động tự do Việt Nam đã có những đóng góp nhất định cho cả nơi đi và nơi đến; tuy
nhiên, họ lại không có đủ tư cách pháp lý hoàn toàn hợp pháp tại Lào, và do đó phải đối mặt với một cuộc sống di cư đầy rẫy khó khăn, thách thức. Nghiên cứu này chỉ ra khoảng cách giữa các quy định chính sách và việc thực thi chúng trong quản lý lao động nước ngoài tại Lào, cụ thể là đối với trường hợp lao động tự do Việt Nam. Để thực hiện nghiên cứu này, tác giả đã thu thập và phân tích cả dữ liệu thứ cấp và sơ cấp từ năm 2014 đến năm 2025 nhằm tìm hiểu cuộc sống của lao động tự do Việt Nam tại Lào trong các giai đoạn khác nhau gắn liền với sự ra đời của các chính sách cụ thể. Kết quả phân tích cho thấy, để tiếp tục sinh sống và làm việc tại Lào, các lao động tự do Việt Nam phải lách luật hoặc thậm chí buộc phải trở về Việt Nam. Nghiên cứu này có thể góp phần tăng cường sự hài hòa trong hợp tác song phương Việt Nam
- Lào, đảm bảo quyền và lợi ích của người lao động di cư, đồng thời tránh vi phạm luật pháp của nước sở tại.
Bài viết tiếp theo là Educational Equality from the Viewpoint of Franklin (Bình đẳng giáo dục dưới góc nhìn của Franklin) của Th.S Phan Lữ Trí Minh, nghiên cứu tìm hiểu về Benjamin Franklin, là một trong những vĩ nhân có tầm ảnh hưởng lớn nhất về học thuật hàn lâm của thời kỳ Khai sáng Mỹ, người mà tư tưởng đã định hình sâu sắc các quan niệm hiện đại về giáo dục, tư cách công dân và lợi ích công cộng. Thay vì xây dựng một học thuyết triết học có hệ thống, Franklin đã phát triển một tư tưởng đặc sắc về bình đẳng giáo dục dựa trên lý tính thực tiễn, trách nhiệm công dân và đổi mới thể chế. Bài viết này nghiên cứu tư tưởng của ông về bình đẳng giáo dục thông qua ba khía cạnh có mối quan hệ biện chứng với nhau: bình đẳng về cơ hội giáo dục, bình đẳng về nội dung giáo dục, và sự bình đẳng về năng lực đạo đức cũng như trí tuệ. Điều làm cho đóng góp của ông trở nên đặc biệt ý nghĩa là ông không xem bình đẳng giáo dục đơn thuần như một lý tưởng đạo đức hay khát vọng triết học, mà như một vấn đề của tổ chức xã hội. Tư tưởng của Franklin đại diện cho một bước chuyển dịch quan trọng từ những lời kêu gọi về một nền giáo dục toàn dân sang việc
thiết kế các điều kiện thể chế cho phép sự tham gia rộng rãi vào việc học tập và đời sống công cộng.
TS. Nguyễn Thị Lan Phương có bài viết Applying Machine Translation Tools in Teaching: A Case Study at Thuongmai University (Ứng dụng công cụ dịch thuật máy trong giảng dạy: Nghiên cứu trường hợp tại Trường Đại học Thương mại). Bài viết nhằm mục đích khảo sát việc sử dụng các công cụ dịch thuật máy (hay còn gọi là dịch tự động) trong giảng dạy dịch thuật cho sinh viên ngành Ngôn ngữ Anh thông qua nghiên cứu trường hợp tại Trường Đại học Thương mại, đồng thời phân tích tác động của các công cụ này đối với sự phát triển năng lực dịch thuật của sinh viên, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng của chúng. Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, bài viết sử dụng phương pháp tiếp cận hỗn hợp, kết hợp giữa nghiên cứu định lượng (được thực hiện thông qua bảng câu hỏi khảo sát gửi tới sinh viên) và nghiên cứu định tính (được thực hiện thông qua phỏng vấn nhóm với các giảng viên). Kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng các công cụ dịch máy diễn ra rất phổ biến; mặc dù các công cụ này gây ra một số tác động tiêu cực, nhưng đồng thời chúng cũng góp phần nâng cao năng lực dịch thuật của sinh viên. Trên cơ sở đó, một số giải pháp sư phạm đã được đề xuất cho cả giảng viên và sinh viên nhằm giúp sinh viên sử dụng các công cụ dịch máy một cách chủ động hơn, từ đó tối đa hóa các tác động tích cực và nâng cao năng lực dịch thuật toàn diện của sinh viên.
Bài viết Impacts of Technology Acceptance and Collaborative Learning on English Speaking Success among Vietnamese Students: A Case study (Tác động của việc chấp nhận công nghệ và học tập hợp tác đến kết quả nói tiếng Anh của sinh viên Việt Nam: Một nghiên cứu trường hợp) của TS. Trần Thị Lệ Dung. Nghiên cứu này tìm hiểu các yếu tố quyết định đến kết quả nói tiếng Anh của sinh viên đại học Việt Nam khi sử dụng các chatbot AI trong bối cảnh học ngôn ngữ. Dựa trên Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) và Lý thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT), nghiên cứu đề xuất và kiểm định một mô hình tích hợp gồm sáu cấu
trúc: nhận thức về sự hữu ích (PU), tính dễ sử dụng (EOU), mức độ sẵn sàng học tập hợp tác (CLR), ảnh hưởng xã hội (SI), tự điều chỉnh học tập (SRL) và năng lực hiểu biết về AI (AIL). Dữ liệu được thu thập từ 328 sinh viên đại học và được phân tích bằng phương pháp Mô hình hóa phương trình cấu trúc bình phương tối thiểu từng phần (PLS-SEM). Kết quả chỉ ra rằng cả sáu giả thuyết đều có ý nghĩa thống kê (p
< 0.001), chứng minh ảnh hưởng đáng kể của các yếu tố này đối với kết quả nói tiếng Anh của sinh viên. Mô hình đề xuất giải thích được 64.5% phương sai của kết quả nói (R² = 0.645), thể hiện khả năng giải thích mạnh mẽ. Trong số các yếu tố dự báo, nhận thức về sự hữu ích (β = 0.323) và mức độ sẵn sàng học tập hợp tác (β = 0.286) được xác định là những yếu tố có ảnh hường quyết định. Các phát hiện này đưa ra những hàm ý thực tiễn cho các nhà giáo dục và các nhà hoạch định chính sách nhằm nâng cao việc học tiếng Anh với sự hỗ trợ của AI tại các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam.
Nhóm tác giả gồm PSG. TS Ngô Văn Hiền, Ngô Hiền Đan có bài viết Green Resource Education - Raising Awareness, Promoting Community Participation in Sustainable Forest Management (Giáo dục Nguồn tài nguyên Xanh - Nâng cao Nhận thức, Thúc đẩy sự Tham gia của Cộng đồng trong Quản lý Rừng Bền vững) nghiên cứu về rừng – một nguồn tài nguyên xanh – được biết đến như chiếc lá chắn xanh bảo vệ Trái Đất, giúp né tránh các tác động tiêu cực của tự nhiên, duy trì sự sống của con người và bảo vệ muôn loài. Tuy nhiên, cuộc đua tăng trưởng thương mại và các lý do sinh kế, cùng với nhận thức hạn chế của con người đang khiến rừng ngày càng bị cạn kiệt, dẫn đến biến đổi khí hậu, nóng lên toàn cầu, mất cân bằng hệ sinh thái, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh, nghèo đói, v.v. Để Trái Đất có thể sinh tồn, vì những hậu quả mà chúng ta đang phải gánh chịu hiện nay và vì các thế hệ tương lai, cần phải có một thái độ tích cực và trách nhiệm giáo dục, nâng cao nhận thức về rừng, đồng thời thúc đẩy việc bảo tồn rừng thông qua sự tham gia của cộng đồng vào quản lý rừng. Từ việc tổng quan tài liệu về mối quan hệ giữa thương mại, giáo dục
và quản lý rừng, bên cạnh tầm quan trọng của việc thiết lập sự cân bằng giữa thương mại và quản lý rừng bền vững, nghiên cứu này cung cấp một mô hình giáo dục nguồn tài nguyên xanh nhằm nâng cao nhận thức và thúc đẩy sự tham gia của các nhà quản lý chính sách, doanh nghiệp và cộng đồng trong việc tái cân bằng giữa thương mại và quản lý rừng bền vững.
Nhìn chung, Vietnam Social Sciences Review số 2/2026 đã đăng tải nhiều bài viết có giá trị lý luận và thực tiễn. Các công trình nghiên cứu trong số này đã mang tới độc giả phân tích chuyên sâu về những vấn đề khoa học đang được quan tâm, cung cấp những luận cứ và những góc nhìn có giá trị tham khảo cao. Các bài viết đều được lựa chọn và sắp xếp theo định hướng khoa học, nội dung phong phú và cách tiếp cận đa chiều. Với những nội dung như trên, Vietnam Social Sciences Review số 2/2026 tiếp tục là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích, uy tín cho cộng đồng học thuật Việt Nam và quốc tế, đặc biệt trong bối cảnh Vietnam Social Sciences Review đang từng bước hiện thực hóa đề án gia nhập chỉ mục quốc tế Scopus.
Phương Thúy
Phòng Biên tập Tạp chí