
Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số 5/2026
Mở đầu Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số 5/2026 là bài phát biểu của GS.TS. Lê Văn Lợi, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, tại Lễ kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam (18/5/2026), với chủ đề “Tiếp tục đổi mới, nâng cao năng lực của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới”. Bài viết khái quát chặng đường hơn 70 năm xây dựng và phát triển của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, khẳng định những đóng góp quan trọng của Viện trong nghiên cứu khoa học, đào tạo, tư vấn chính sách và phát triển khoa học xã hội, nhân văn phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trên cơ sở đánh giá những kết quả đạt được, bài viết cũng chỉ ra những khó khăn, thách thức về đội ngũ cán bộ, chất lượng nghiên cứu, năng lực tư vấn chính sách, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Đồng thời, tác giả đề xuất năm nhóm nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu cơ bản, tăng cường tư vấn chính sách, đổi mới đào tạo và hợp tác quốc tế, phát triển đội ngũ cán bộ khoa học chất lượng cao và hiện đại hóa hạ tầng tri thức. Đây là những định hướng có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao năng lực và vị thế của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bài viết “Từ ‘tu thân’ đến ‘thành nhân’: Ảnh hưởng của Nho giáo đến giáo dục và cấu trúc nhân cách con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới” của Bùi Thị Thủy phân tích những giá trị cốt lõi của tư tưởng Nho giáo, đặc biệt là quan niệm “tu thân”, và ảnh hưởng của hệ giá trị này đối với truyền thống giáo dục cũng như quá trình hình thành nhân cách con người Việt Nam. Trên cơ sở khảo cứu các tư tưởng Khổng Tử, Mạnh Tử và đối chiếu với thực tiễn giáo dục Việt Nam, tác giả làm rõ vai trò của các chuẩn mực đạo đức như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín trong việc xây dựng mô hình nhân cách truyền thống, đồng thời chỉ ra những hạn chế của mô hình giáo dục Nho giáo trước yêu cầu phát triển của xã hội hiện đại. Từ góc nhìn kế thừa và phát triển, bài viết khẳng định việc tiếp thu có chọn lọc các giá trị tích cực của Nho giáo, như tinh thần hiếu học, học tập suốt đời, tự rèn luyện và trách nhiệm xã hội, có ý nghĩa thiết thực đối với giáo dục con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Qua đó, tác giả đề xuất định hướng vận dụng các giá trị truyền thống gắn với yêu cầu xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Bài viết “Thực trạng hoạt động khởi nghiệp tại Việt Nam nhìn từ khía cạnh cấp tỉnh/thành phố” của Nguyễn Thu Hằng và Nguyễn Quang Linh cho thấy: trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững, khởi nghiệp ngày càng được xem là một động lực quan trọng của phát triển kinh tế địa phương. Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng về số lượng doanh nghiệp mới thành lập chưa phản ánh đầy đủ chất lượng, năng lực tạo giá trị và khả năng đóng góp dài hạn của hoạt động khởi nghiệp. Trên cơ sở dữ liệu của 63 địa phương trong giai đoạn 2018-2024, nghiên cứu phân tích thực trạng khởi nghiệp tại Việt Nam dưới góc nhìn không gian, động cơ, môi trường cạnh tranh và năng lực đổi mới sáng tạo. Kết quả cho thấy hoạt động khởi nghiệp đã mở rộng đáng kể về quy mô nhưng vẫn tồn tại sự phân hóa mạnh giữa các địa phương, với mức độ tập trung cao tại một số trung tâm kinh tế lớn. Đồng thời, động cơ khởi nghiệp có xu hướng dịch chuyển theo hướng mưu sinh, trong khi khởi nghiệp dựa trên cơ hội thị trường và đổi mới sáng tạo còn hạn chế về phạm vi và tính bền vững. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng cạnh tranh địa phương chỉ đóng vai trò hỗ trợ, trong khi quy mô thị trường, mức độ tập trung nguồn lực và năng lực tích lũy tri thức có ảnh hưởng quyết định hơn đến sự phát triển khởi nghiệp. Từ đó, nghiên cứu nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo có khả năng kết nối, tích lũy và thương mại hóa tri thức, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang điều chỉnh đơn vị hành chính và hoàn thiện các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp.
Bài viết “Quản trị địa phương nhìn từ cơ chế quản lý của một làng Việt châu thổ sông Hồng trước năm 1945: Lịch sử và bài học kinh nghiệm” của Trần Thị Thái Hà tiếp cận vấn đề quản trị địa phương từ góc nhìn lịch sử, thông qua việc khảo sát cơ chế vận hành của làng Việt truyền thống ở khu vực châu thổ sông Hồng. Trong tiến trình hình thành và phát triển của xã hội Việt Nam truyền thống, làng xã không chỉ là đơn vị cư trú mà còn là một thiết chế quản trị quan trọng, nơi tổ chức, điều phối và duy trì các hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa của cộng đồng dân cư. Trước năm 1945, đặc biệt tại khu vực châu thổ sông Hồng, mô hình quản lý làng xã được vận hành dựa trên sự kết hợp giữa cơ chế quản lý của nhà nước phong kiến và tính tự quản nội bộ của cộng đồng. Việc nghiên cứu cơ chế vận hành của các làng Việt cụ thể có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận diện những đặc điểm của quản trị địa phương truyền thống, đồng thời cung cấp góc nhìn lịch sử cho việc xây dựng mô hình quản trị hiện nay. Trên cơ sở nghiên cứu trường hợp làng Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định (nay thuộc phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình), bài viết phân tích cơ chế quản lý làng xã trước năm 1945 thông qua các nguồn tư liệu như hương ước, địa bạ, tài liệu lưu trữ và khảo sát thực địa. Kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt động quản trị tại Tức Mặc được tổ chức trên nền tảng phối hợp giữa Hội đồng tộc biểu, Hội đồng kỳ mục và đội ngũ chức dịch, tập trung vào quản lý nguồn lực ruộng đất, điều hành ngân sách cộng đồng và bảo vệ lợi ích dân cư. Nghiên cứu đồng thời làm rõ vai trò của quan hệ dòng họ và tính tự quản trong tổ chức làng xã, từ đó rút ra những giá trị lịch sử và bài học kinh nghiệm đối với công tác quản trị địa phương hiện nay.
Với chất lượng học thuật và tính ứng dụng cao, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số 5/2026 là kênh công bố kết quả nghiên cứu, trao đổi học thuật, đồng thời là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị đối với các nhà khoa học, giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên và những người làm công tác quản lý, hoạch định chính sách trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.
Lê Thị Nguyệt Minh
Phòng Biên tập Tạp chí