
Các bài viết gồm:
Bài viết Đại Việt in the Political Context of East Asia in the 16th – 17th Centuries(Đại Việt trong bối cảnh chính trị Đông Á thế kỷ XVI – XVII) của GS.TS. Nguyễn Văn Kim. Nghiên cứu chỉ ra chính quyền Lê - Trịnh đã nhận thức rõ ràng những biến chuyển của thời đại và thực thi một chính sách đối ngoại tương đối chủ động trong hai thế kỷ, nhằm ngăn chặn hiểm họa xâm lược từ phương Bắc cũng như từ các thế lực phía Nam, đồng thời tập trung nguồn lực đối phó với các cường quốc phương Tây. Chính sách này đã góp phần bảo vệ vị thế chính trị của triều đình và mở rộng các quan hệ kinh tế, ngoại giao với các quốc gia khác trong khu vực. Bài viết tập trung phân tích động lực chính trị nội tại của Đại Việt trong thế kỷ XVI – XVII, các yếu tố khu vực và quốc tế liên quan, chiến lược chính trị và cách ứng phó của nhà Mạc cũng như chính quyền Lê - Trịnh, cùng những hệ quả tức thời và lâu dài của các sáng kiến và chính sách này đối với đất nước trong những thế kỷ tiếp theo.
Bài viết thứ hai, The Adaptation of Imperial Examination in Vietnam in the 15th -18th Centuries (Sự thích ứng của khoa cử tại Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII) của các tác giả PGS.TS. Ma Lingfang, TS. Nguyễn Đức Long tìm hiểu sự thích ứng của hệ thống khoa cử tại Việt Nam thế kỷ 15-18. Trên cơ sở tiếp thu hệ thống khoa cử của Trung Quốc, các triều đình Việt Nam đã điều chỉnh và đổi mới hệ thống khoa cử dựa trên nhu cầu chính trị, cấu trúc xã hội và truyền thống văn hóa riêng biệt của dân tộc. Thông qua việc phân tích bối cảnh lan tỏa, những biểu hiện của sự thích ứng và các tác động văn hóa - xã hội của hệ thống khoa cử tại Việt Nam, các tác giả khám phá logic nội tại của quá trình chuyển dịch sang phát triển độc lập. Khoa cử Việt Nam dần hình thành những đặc điểm rõ nét về quy chế thi cử, thiết lập môn thi, cơ chế tuyển chọn và nội hàm văn hóa. Quá trình này không chỉ là minh chứng quan trọng cho sự giao lưu văn hóa Việt - Trung, mà còn đại diện cho một phương sách then chốt để các triều đại phong kiến Việt Nam xây dựng trật tự cai trị phù hợp của riêng mình. Sự thích ứng của khoa cử đã có những tác động sâu sắc đến sự ổn định chính trị, lan tỏa của Nho giáo, phát triển giáo dục và xã hội tại Việt Nam.
Bài viết tiếp theo là English Identity and Soft Power among Vietnamese Youth in the Digital Age (Bản sắc Anh ngữ và Quyền lực mềm trong giới trẻ Việt Nam trong thời đại số) của tác giả TS. Nguyễn Thị Tuyết Mai nghiên cứu hiện trạng tiếng Anh nổi lên không chỉ như một công cụ giao tiếp mà còn là một dạng quyền lực mềm góp phần định hình đáng kể bản sắc văn hóa của giới trẻ Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa kỹ thuật số. Kết quả nghiên cứu cho thấy chiến lược giới trẻ sử dụng tiếng Anh đa dạng, cho phép hình thành bản sắc thông qua quá trình tiếp biến văn hóa. Nghiên cứu cũng làm nổi bật cách giới trẻ Việt Nam tái ngữ cảnh hóa tiếng Anh toàn cầu trong khuôn khổ địa phương, từ đó đưa ra những hàm ý cho giáo dục ngôn ngữ và sự hình thành bản sắc trong các xã hội đa ngữ, toàn cầu hóa.
Nhóm tác giả tác giả TS. Lương Thị Hiền, Ths. Đoàn Minh Sơn, Ths. Phạm Anh Thư có bài viếtDiscourse on Ethnic Identity in the Textbooks from 1976 to the Present from the Perspective of Social Semiotics (Diễn ngôn về bản sắc dân tộc ít người trong sách giáo khoa từ năm 1976 đến nay dưới góc độ ký hiệu học xã hội). Nghiên cứu này khảo sát sự biến đổi trong việc kiến tạo bản sắc của các dân tộc ít người trong sách giáo khoa tiếng Việt và Ngữ văn từ năm 1976 đến 2018. Bài viết này khẳng định rằng sự biến đổi của hình ảnh các dân tộc thiểu số trong sách giáo khoa Việt Nam từ năm 1976 đến nay không đơn thuần là sự cập nhật về nội dung, mà phản ánh một quá trình tái cấu trúc hệ thống trong chiến lược quản trị nhà nước thông qua diễn ngôn giáo dục. Rộng hơn, những biến đổi này minh chứng cho việc diễn ngôn giáo dục vận hành như một không gian động, nơi các ưu tiên về tư tưởng liên tục được tái diễn đạt để đáp ứng với các điều kiện lịch sử và xã hội đang thay đổi. Bài viết đề xuất mở rộng hướng tìm tòi này bằng cách kết hợp phân tích đa phương thức và nghiên cứu sự tiếp nhận của công chúng, từ đó mang lại cái nhìn toàn diện hơn về cách diễn ngôn sách giáo khoa được kiến tạo và diễn giải trong bối cảnh giáo dục.
Bài viết Vietnam - India People-to-People Diplomacy within Framework of the Comprehensive Strategic Partnership: From Political Consensus to People-to- People Engagement (Đối ngoại nhân dân Việt Nam - Ấn Độ trong khuôn khổ đối tác chiến lược toàn diện: Từ đồng thuận chính trị đến kết nối nhân dân) của tác giả TS. Huỳnh Thanh Loan cho thấy từ khi thiết lập quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam - Ấn Độ, đối ngoại nhân dân đã mở rộng mạnh mẽ và thực chất, trở thành một trong những khía cạnh năng động nhất của quan hệ song phương. Bài viết lập luận rằng sự tiến bộ này không chỉ được thúc đẩy bởi sự đồng thuận chính trị cấp cao hay các khung chính sách đã được thể chế hóa, mà còn nhờ sự tham gia ngày càng tích cực của các tổ chức xã hội, mạng lưới chuyên gia, hoạt động giao lưu văn hóa và các cá nhân từ cả hai nước. Cùng với nhau, các tác nhân này đã chuyển đổi hoạt động kết nối nhân dân từ một hình thức giao lưu mang tính biểu tượng thành một kênh thực tiễn giúp thúc đẩy xây dựng lòng tin, kết nối xã hội và hiểu biết lẫn nhau bền vững. Đồng thời, bài viết cũng chỉ ra một số hạn chế còn tồn tại đang cản trở tiềm năng tối đa của đối ngoại nhân dân. Bằng cách xem xét cả những thành tựu và các thách thức chưa được giải quyết, bài viết nhấn mạnh nhu cầu về những cách tiếp cận có mục tiêu hơn, bao trùm và bền vững hơn đối với các hoạt động kết nối nhân dân giữa Việt Nam và Ấn Độ.
Bài viết Jurisdiction on Robbery Crime in Hồ Chí Minh City: A Case Study (Thẩm quyền xét xử đối với tội cướp tài sản: Nghiên cứu trường hợp tại Thành phố Hồ Chí Minh) của tác giả TS. Nguyễn Đăng Thông sử dụng phương pháp phân tích luật học kết hợp với nghiên cứu tình huống, nghiên cứu phân tích các quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 và các quy định tố tụng liên quan, cùng với các tài liệu học thuật về tội phạm học đô thị và thẩm quyền hình sự. Kết quả nghiên cứu cho thấy pháp luật Việt Nam đã thiết lập một cấu trúc thẩm quyền rõ ràng; theo đó, các tội phạm cướp tài sản thuộc thẩm quyền của các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân, tuy nhiên vẫn tồn tại những thách thức thực tế trong việc thực thi thẩm quyền hình sự. Bài viết nhấn mạnh nhu cầu cần có sự kết hợp chặt chẽ hơn giữa phân tích luật hình sự và tội phạm học đô thị trong việc nghiên cứu tội phạm cướp tài sản tại các đô thị lớn ở Việt Nam.
Nhìn chung, Vietnam Social Sciences Review số 1/2026 đã đăng tải nhiều bài viết có giá trị lý luận và thực tiễn. Các công trình nghiên cứu trong số này đã mang tới độc giả phân tích chuyên sâu về những vấn đề khoa học đang được quan tâm, cung cấp những luận cứ và những góc nhìn có giá trị tham khảo cao. Các bài viết đều được lựa chọn và sắp xếp theo định hướng khoa học, nội dung phong phú và cách tiếp cận đa chiều. Với những nội dung như trên, Vietnam Social Sciences Review số 1/2026 tiếp tục là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích, uy tín cho cộng đồng học thuật Việt Nam và quốc tế, đặc biệt trong bối cảnh Vietnam Social Sciences Review đang từng bước hiện thực hóa đề án gia nhập chỉ mục quốc tế Scopus.
Phương Thúy